Nhiều anh/chị đến với Luật Hoàng An khi đã một mình nuôi con nhiều tháng mà chồng cũ vẫn không chuyển một đồng cấp dưỡng. Câu hỏi quen thuộc là: có đòi được không, đòi bằng cách nào, và người không trả có bị xử lý gì không? Nghĩa vụ cấp dưỡng không mất đi chỉ vì chồng cũ im lặng. Nếu đã có bản án hoặc quyết định của Tòa án quy định về cấp dưỡng, anh/chị nộp đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế. Nếu chưa có, anh/chị khởi kiện để Tòa án buộc chồng cũ thực hiện. Người cố tình trốn tránh còn có thể bị phạt hành chính và, trong trường hợp nghiêm trọng, bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết này, Luật Hoàng An giải thích căn cứ pháp lý và cách chọn hướng xử lý theo từng tình huống. Các quy định áp dụng tương tự khi người không trả cấp dưỡng là người vợ.
I. NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG CỦA NGƯỜI KHÔNG TRỰC TIẾP NUÔI CON
Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."
Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
"Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."
Như vậy, cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển của con. Khi cha mẹ ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.
Nghĩa vụ này không phụ thuộc vào việc cha mẹ có tự nguyện thỏa thuận hay không, cũng không chấm dứt chỉ vì người không trực tiếp nuôi con không thăm nom hoặc không còn quan hệ tình cảm với con. Việc cấp dưỡng cần được thực hiện phù hợp với nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
II. NGƯỜI KHÔNG CẤP DƯỠNG NUÔI CON THÌ BỊ XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?
Trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng cố tình từ chối hoặc trốn tránh thực hiện nghĩa vụ sau ly hôn, tùy tính chất, mức độ vi phạm và các điều kiện theo quy định pháp luật, người đó có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý sau:
1. Cưỡng chế thi hành án dân sự
Nếu nghĩa vụ cấp dưỡng đã được ghi nhận trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng người phải cấp dưỡng không tự nguyện thực hiện dù có điều kiện thi hành án, người được cấp dưỡng hoặc người đại diện hợp pháp có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định.
Theo Điều 76 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án có thể được áp dụng trong trường hợp thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng. Khi thực hiện khấu trừ, Chấp hành viên phải để lại khoản tiền bảo đảm điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người phải thi hành án và người được nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
2. Xử phạt vi phạm hành chính
Theo điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau ly hôn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Người vi phạm còn có thể bị buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
Ngoài ra, hành vi vi phạm quy định về thi hành án dân sự còn có thể bị xử phạt theo Nghị định số 109/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 18/5/2026, nếu đáp ứng các điều kiện xử phạt tương ứng.
3. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội sau:
-
Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 Bộ luật Hình sự): Áp dụng đối với người có nghĩa vụ và có khả năng thực tế để cấp dưỡng nhưng từ chối hoặc trốn tránh, làm người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp bị xử lý về tội không chấp hành án. Hình phạt có thể là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
-
Tội không chấp hành án (Điều 380 Bộ luật Hình sự): Có thể áp dụng khi người có điều kiện nhưng không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Khung hình phạt cơ bản là phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
4. Người bị vi phạm cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của con?
Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện cấp dưỡng, người trực tiếp nuôi con nên lưu giữ bản án hoặc quyết định của Tòa án, tài liệu chứng minh việc không cấp dưỡng và các thông tin liên quan đến thu nhập, tài sản, điều kiện thi hành án của người có nghĩa vụ.
Tùy từng trường hợp, có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Việc xử lý cần căn cứ vào hồ sơ, chứng cứ và các điều kiện pháp luật cụ thể. Vì vậy, nếu gặp khó khăn trong việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn, anh chị nên tham khảo ý kiến luật sư để xác định phương án phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con.
III. CÁCH XỬ LÝ KHI CHỒNG CŨ KHÔNG THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CẤP DƯỠNG NUÔI CON
Khi chồng cũ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn, người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu thi hành án, khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng hoặc thương lượng để giải quyết. Phương án cụ thể phụ thuộc vào việc nghĩa vụ cấp dưỡng đã được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án hay chưa.
1. Đã có bản án, quyết định về cấp dưỡng: Yêu cầu thi hành án
Từ ngày 01/7/2026, hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025 (Luật số 106/2025/QH15).
Trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chồng cũ không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành.
Các bước thực hiện gồm:
Bước 1: Xác định cơ quan có thẩm quyền.
Người yêu cầu cần xác định cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ theo quy định hiện hành. Trước khi nộp, nên kiểm tra thông tin về địa bàn và cơ quan tiếp nhận để tránh phải bổ sung hoặc chuyển hồ sơ.
Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ yêu cầu thi hành án.
Hồ sơ nên có các tài liệu sau:
- Đơn yêu cầu thi hành án;
- Bản án hoặc quyết định của Tòa án có nội dung về nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu và giấy khai sinh của con, nếu cần;
- Thông tin về nơi làm việc, thu nhập, tài khoản ngân hàng, tài sản của người phải cấp dưỡng mà người yêu cầu biết được;
- Tài liệu thể hiện việc chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu có.
Bước 3: Nộp đơn và theo dõi quá trình thi hành án.
Theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025, thời hiệu yêu cầu thi hành án thông thường là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ, cần xem xét thời điểm đến hạn của từng khoản cấp dưỡng để xác định thời hiệu tương ứng.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền xem xét ra quyết định thi hành án theo quy định. Nếu người phải thi hành án có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện, Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp, chẳng hạn khấu trừ thu nhập hoặc xử lý tài sản theo quy định pháp luật.
Về phí thi hành án: Việc thu, miễn, giảm phí được thực hiện theo quy định hiện hành, trong đó có Thông tư số 72/2026/TT-BTC. Người yêu cầu nên kiểm tra trường hợp miễn phí cụ thể trước khi nộp hồ sơ.
Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành, việc thu hồi khoản tiền cấp dưỡng còn thiếu có thể gặp khó khăn. Người được thi hành án nên tiếp tục theo dõi và cung cấp thông tin về thu nhập, tài sản hoặc nơi làm việc mới của người phải thi hành án khi có căn cứ.
2. Chưa có bản án, quyết định buộc cấp dưỡng: Yêu cầu Tòa án giải quyết
Nếu bản án ly hôn chưa ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng, hoặc hai bên chưa có quyết định có thể yêu cầu thi hành án về nội dung này, người trực tiếp nuôi con có thể yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện cấp dưỡng thực hiện nghĩa vụ theo Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Hồ sơ, tài liệu cần chuẩn bị có thể bao gồm:
- Giấy khai sinh của con;
- Bản án hoặc quyết định ly hôn, nếu đã ly hôn;
- Văn bản thỏa thuận về cấp dưỡng, nếu có;
- Tin nhắn, thư điện tử, sao kê chuyển khoản hoặc tài liệu khác thể hiện việc trao đổi, yêu cầu cấp dưỡng;
- Tài liệu chứng minh các khoản chi phí thực tế để nuôi dưỡng con như học phí, viện phí, tiền ăn ở và các nhu cầu thiết yếu khác;
- Thông tin về nơi cư trú, nơi làm việc, thu nhập và khả năng tài chính của người bị yêu cầu cấp dưỡng, nếu có.
Tòa án sẽ xem xét căn cứ yêu cầu, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và khả năng thực tế của người có nghĩa vụ để giải quyết theo quy định pháp luật.
Về thời điểm bắt đầu tính nghĩa vụ cấp dưỡng và khoản tiền cấp dưỡng có thể yêu cầu đối với thời gian trước khi Tòa án giải quyết, cần xem xét cụ thể hồ sơ, thỏa thuận giữa các bên và nội dung bản án, quyết định đã có. Không nên mặc nhiên xác định rằng mọi trường hợp đều được truy lĩnh từ cùng một thời điểm.
Anh chị có thể tham khảo thêm bài viết Nộp đơn ly hôn ở đâu khi bỏ Tòa án nhân dân cấp huyện để tìm hiểu thêm về thẩm quyền của Tòa án theo mô hình tổ chức hiện hành.
3. Thương lượng bằng văn bản và lưu giữ chứng cứ
Trong trường hợp chồng cũ chậm cấp dưỡng do khó khăn kinh tế tạm thời, hai bên có thể trao đổi để thống nhất phương thức thực hiện nghĩa vụ phù hợp hơn.
Theo Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng hoặc tạm ngừng cấp dưỡng khi người có nghĩa vụ lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu không đạt được thỏa thuận, các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ cấp dưỡng đã được ghi nhận trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, việc tự thỏa thuận không thực hiện nghĩa vụ không nên được xem là căn cứ đương nhiên làm thay đổi nội dung bản án. Các bên cần thực hiện thủ tục phù hợp theo quy định pháp luật.
Để bảo vệ quyền lợi của con, người trực tiếp nuôi con nên lưu giữ tin nhắn, văn bản yêu cầu cấp dưỡng, sao kê ngân hàng và các tài liệu thể hiện số tiền đã nhận hoặc còn thiếu. Đây có thể là căn cứ hữu ích khi yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
IV. CÂU HỎI THƯỜNG GẶP
1. Chỉ thỏa thuận miệng, chưa có bản án về cấp dưỡng thì có đòi được không?
Trả lời: Có thể. Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình cho phép yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện cấp dưỡng phải thực hiện. Anh/chị nên lưu lại tin nhắn, sao kê và tài liệu chứng minh thỏa thuận trước đây.
2. Tiền cấp dưỡng những tháng chồng cũ đã nợ có đòi lại được không?
Trả lời: Nếu bản án, quyết định đã quy định mức cấp dưỡng, anh/chị yêu cầu thi hành án đối với các kỳ chưa trả, trong thời hiệu 5 năm tính cho từng kỳ. Nếu chưa có bản án, thời điểm bắt đầu tính do Tòa án xem xét và cần được luật sư tư vấn theo hồ sơ cụ thể.
3. Chồng cũ không có việc làm ổn định thì sao?
Trả lời: Mức cấp dưỡng căn cứ vào khả năng thực tế nên không thể vượt khả năng của chồng cũ, nhưng nghĩa vụ vẫn tồn tại. Nếu chưa xác định được thu nhập hay tài sản, anh/chị có thể yêu cầu lại khi có thông tin mới.
4. Chồng cũ không cấp dưỡng có bị đi tù không?
Trả lời: Có thể, nhưng chỉ khi có khả năng thực tế để cấp dưỡng và vi phạm ở mức Điều 186 hoặc Điều 380 Bộ luật Hình sự, chẳng hạn đã bị xử phạt hành chính hoặc cưỡng chế mà vẫn không chấp hành. Phần lớn vụ việc được giải quyết ở giai đoạn thi hành án hoặc xử phạt hành chính.
5. Nộp đơn yêu cầu thi hành án cấp dưỡng ở đâu và có mất phí không?
Trả lời: Anh/chị nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, thường là Phòng Thi hành án dân sự khu vực. Theo các nguồn hướng dẫn về Thông tư 72/2026/TT-BTC, tiền cấp dưỡng không phải chịu phí thi hành án; anh/chị nên xác nhận lại với cơ quan thi hành án trước khi nộp.
Mọi nhu cầu tư vấn pháp luật, vui lòng để lại câu hỏi ở phần bình luận bên dưới hoặc liên hệ Luật Hoàng An theo hotline 0398.597.144, Zalo hoặc email Contact@luathoangan.vn để được hỗ trợ nhanh chóng.






Bình luận: